Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2019

Chỉ những ai nhận biết Đức Chúa Trời mới có thể làm chứng cho Chúa

Tin vào Đức Chúa Trời và nhận biết Đức Chúa Trời là luật pháp của Thiên đàng và nguyên tắc của trần gian, và ngày nay—trong một thời đại mà Đức Chúa Trời nhập thể đang đích thân thực hiện công tác của Ngài—là một thời điểm đặc biệt tốt để nhận biết Chúa. Việc làm hài lòng Đức Chúa Trời là điều đạt được bằng cách xây dựng trên nền tảng của sự hiểu biết ý Chúa, và để hiểu được ý Chúa, cần phải có một số kiến thức về Chúa. Kiến thức về Đức Chúa Trời này là khải tượng mà một người tin Chúa phải có; nó là nền tảng cho niềm tin vào Chúa của con người. Thiếu kiến thức này, niềm tin vào Chúa của con người sẽ tồn tại trong một trạng thái mơ hồ, giữa lý thuyết trống rỗng. Ngay cả khi những người như thế này quyết tâm theo Chúa, họ cũng sẽ chẳng đạt được điều gì. Tất cả những ai không đạt được điều gì trong dòng chảy này là những kẻ sẽ bị loại bỏ—họ đều là những kẻ ăn bám. Bất kỳ bước nào trong công tác của Chúa mà ngươi trải nghiệm, ngươi nên được kèm theo một khải tượng vĩ đại. Nếu không, ngươi sẽ khó chấp nhận từng bước của công tác mới, vì công tác mới của Chúa nằm ngoài khả năng tưởng tượng của con người, và nằm ngoài giới hạn của quan niệm con người. Và vì vậy, nếu thiếu người chăn để chăm sóc con người, nếu thiếu người chăn để tham gia vào sự thông công về các khải tượng, thì con người không có khả năng chấp nhận công tác mới này. Nếu con người không thể nhận được các khải tượng, thì họ không thể nhận được công tác mới của Chúa, và nếu con người không thể vâng theo công tác mới của Chúa, thì con người sẽ không thể hiểu được ý Chúa, và vì vậy kiến thức về Chúa của họ sẽ chẳng là gì cả. Trước khi con người thực hiện lời Chúa, họ phải biết lời Chúa, nghĩa là họ phải hiểu ý Chúa; chỉ bằg cách này thì lời Chúa mới có thể được thực hiện một cách chính xác và phù hợp với ý Chúa. Đây là điều mà tất cả những ai tìm kiếm lẽ thật phải sở hữu, và đó cũng là quá trình mà tất cả những ai cố gắng để nhận biết Chúa phải trải qua. Quá trình nhận biết lời Chúa là quá trình nhận biết Đức Chúa Trời, và cũng là quá trình nhận biết công tác của Chúa. Và vì vậy, việc nhận biết các khải tượng không chỉ đề cập đến việc nhận biết nhân tính của Đức Chúa Trời nhập thể, mà còn bao gồm cả việc nhận biết lời và công tác của Chúa. Từ lời của Chúa, mọi người hiểu được ý Chúa, và từ công tác của Chúa, họ biết được tâm tính của Chúa và biết được Chúa là gì. Niềm tin vào Chúa là bước đầu tiên để nhận biết Chúa. Quá trình tiến lên từ niềm tin ban đầu này vào Chúa cho đến niềm tin sâu sắc nhất vào Ngài là quá trình nhận biết Chúa, và là quá trình trải nghiệm công tác của Chúa. Nếu ngươi chỉ tin vào Đức Chúa Trời vì lợi ích của việc tin vào Chúa, chứ không phải vì lợi ích của việc nhận biết Ngài, thì đức tin của ngươi không thực tế, và đức tin của ngươi không thể trở nên thuần khiết—điều này là chắc chắn. Nếu trong quá trình trải nghiệm công tác của Chúa, con người dần dần biết đến Chúa, thì tâm tính của họ sẽ dần thay đổi, và niềm tin của họ sẽ càng trở nên chân thật. Theo cách này, khi con người đạt được thành công trong niềm tin của mình vào Chúa thì họ sẽ hoàn toàn có được Chúa. Lý do khiến Đức Chúa Trời đã nỗ lực nhiều đến vậy để trở nên xác thịt lần thứ hai nhằm đích thân thực hiện công tác của Ngài là hầu cho con người có thể nhận biết Ngài và nhìn thấy Ngài. Nhận biết Chúa[a] là hiệu quả cuối cùng phải đạt được khi công tác của Đức Chúa Trời kết thúc; đó là yêu cầu cuối cùng mà Chúa đưa ra cho nhân loại. Lý do Ngài làm điều này là vì lời chứng cuối cùng của Ngài; chính vì để cho con người cuối cùng có thể hoàn toàn hướng về Ngài mà Ngài thực hiện công tác này. Con người chỉ có thể trở nên yêu Chúa bằng cách nhận biết Chúa, và để yêu Chúa thì họ phải nhận biết Chúa. Bất kể họ tìm kiếm như thế nào, hoặc họ cố gắng để đạt được những gì, họ phải có thể đạt được kiến thức về Chúa. Chỉ bằng cách này thì con người mới có thể làm thỏa lòng Đức Chúa Trời. Chỉ bằng cách nhận biết Chúa thì con người mới có thể có đức tin thật vào Chúa, và chỉ bằng cách nhận biết Chúa thì họ mới có thể thực sự tôn kính và vâng lời Chúa. Những người không nhận biết Chúa sẽ không bao giờ đạt đến sự vâng lời và tôn kính Chúa thực sự. Việc nhận biết Đức Chúa Trời bao gồm việc nhận biết tâm tính của Ngài, hiểu ý muốn của Ngài, và biết Ngài là gì. Tuy nhiên, cho dù người ta nhận biết khía cạnh nào, thì mỗi khía cạnh đều yêu cầu con người phải trả giá, và đòi hỏi ý chí để vâng lời, nếu thiếu những điều này thì sẽ không ai có thể tiếp tục đi theo cho đến cuối cùng được. Công tác của Đức Chúa Trời quá mâu thuẫn với các quan niệm của con người, tâm tính của Chúa và bản chất của Chúa quá khó để con người nhận biết được, và tất cả những gì Chúa phán và làm đều quá khó hiểu đối với con người: Nếu con người muốn đi theo Chúa mà không sẵn sàng vâng lời Ngài, thì con người sẽ chẳng đạt được điều gì cả. Từ khi sáng thế cho đến ngày nay, Đức Chúa Trời đã thực hiện nhiều công tác khó hiểu đối với con người và con người đã thấy khó mà chấp nhận, và Chúa đã phán nhiều điều khiến cho các quan niệm của con người khó hàn gắn được. Nhưng Ngài chưa bao giờ ngừng công tác của Ngài vì con người có quá nhiều khó khăn; thay vào đó, Ngài đã tiếp tục làm việc và phán bảo, và mặc dù rất nhiều “người lính” đã ngã xuống bên vệ đường, nhưng Ngài vẫn đang làm công tác của mình, và tiếp tục không ngừng để lựa chọn hết nhóm người này đến nhóm người khác, là những người sẵn sàng quy phục công tác mới của Ngài. Ngài không thương hại cho “những anh hùng” đã ngã xuống ấy, và thay vào đó lại trân trọng những người chấp nhận công tác và những lời mới của Ngài. Nhưng Ngài làm việc theo cách này, từng bước một, nhằm mục đích gì? Tại sao Ngài luôn loại bỏ một số người và lựa chọn những người khác? Tại sao Ngài luôn sử dụng phương pháp như vậy? Mục đích công tác của Ngài là để cho con người nhận biết Ngài, và do đó được Ngài thu nhận. Nguyên tắc trong công tác của Ngài là làm việc trên những người có thể quy phục công tác Ngài làm ngày nay, và không làm việc trên những người quy phục công tác Ngài đã làm trong quá khứ nhưng lại phản đối công tác Ngài làm ngày nay. Đây là lý do tại sao Ngài đã loại bỏ rất nhiều người.
Những tác động của bài học về việc nhận biết Đức Chúa Trời không thể đạt được trong một hoặc hai ngày: Con người phải tích lũy kinh nghiệm, chịu khổ, và đạt được sự quy phục thực sự. Trước hết, hãy bắt đầu từ công tác và những lời của Chúa. Ngươi bắt buộc phải hiểu những gì được bao gồm trong kiến thức về Đức Chúa Trời, làm thế nào để đạt được kiến thức này, và làm thế nào để thấy Chúa qua những kinh nghiệm của ngươi. Đây là điều mà mọi người phải làm khi họ chưa biết Chúa. Không ai có thể nắm bắt được công tác và những lời của Chúa một cách nhanh chóng, và không ai có thể đạt được toàn bộ kiến thức về Chúa trong một thời gian ngắn. Có một quá trình trải nghiệm cần thiết, nếu thiếu nó thì sẽ không ai có thể biết Chúa hoặc đi theo Ngài một cách chân thành được. Đức Chúa Trời càng làm nhiều việc thì con người càng biết nhiều về Ngài. Công tác của Chúa càng mâu thuẫn với các quan niệm của con người thì kiến thức của con người về Ngài càng được đổi mới và đào sâu hơn. Nếu công tác của Đức Chúa Trời cứ mãi cố định và không thay đổi thì con người sẽ không có nhiều kiến thức về Ngài. Giữa lúc sáng thế và hiện tại, những gì Đức Chúa Trời đã làm trong Thời đại Luật pháp, những gì Ngài đã làm trong Thời đại Ân điển, và những gì Ngài làm trong Thời đại Vương quốc: các ngươi phải thật rõ ràng về những khải tượng này. Các ngươi phải nhận biết công tác của Đức Chúa Trời. Chỉ sau khi đi theo Jêsus, Phi-e-rơ mới dần dần nhận biết về phần lớn công tác mà Thần đã làm qua Jêsus. Người đã nói rằng: “Việc dựa vào những kinh nghiệm của con người là không đủ để đạt được kiến thức trọn vẹn; phải có nhiều điều mới từ công tác của Đức Chúa Trời để giúp chúng ta nhận biết Ngài.” Ban đầu, Phi-e-rơ đã tin rằng Jêsus là một người được Đức Chúa Trời sai đến, giống như một sứ đồ, và người đã không xem Jêsus là Đấng Christ. Vào lúc này, khi người bắt đầu đi theo Jêsus, Jêsus đã hỏi người rằng: “Hỡi Si-môn, con trai của Giô-na, ngươi sẽ theo Ta chứ?” Phi-e-rơ thưa rằng: “Tôi phải đi theo người được Cha trên trời sai đến. Tôi phải công nhận người được Đức Thánh Linh lựa chọn. Tôi sẽ đi theo Ngài.” Từ những lời của người, có thể thấy rằng Phi-e-rơ đơn giản là đã không có kiến thức về Jêsus; người đã trải nghiệm những lời của Đức Chúa Trời, đã tự đối phó với bản thân, và đã chịu đựng gian khổ vì Đức Chúa Trời, nhưng người đã không có kiến thức về công tác của Đức Chúa Trời. Sau một thời gian trải nghiệm, Phi-e-rơ đã thấy nơi Jêsus nhiều việc làm của Đức Chúa Trời, người đã thấy sự đáng yêu của Đức Chúa Trời, và người đã thấy nhiều điều về hữu thể của Đức Chúa Trời qua Jêsus. Người cũng đã thấy rằng những lời Jêsus đã phán không thể được nói ra bởi con người, và công việc mà Jêsus đã làm không thể được thực hiện bởi con người. Hơn nữa, qua những lời phán và hành động của Jêsus, Phi-e-rơ đã thấy nhiều sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời và nhiều công việc của một bản chất thần linh. Qua những trải nghiệm của mình, người đã không chỉ đơn thuần nhận biết được chính mình, mà còn chú ý kỹ càng đến mọi hành động của Jêsus, từ đó người đã phát hiện ra nhiều điều mới; cụ thể là, có nhiều sự bày tỏ của Đức Chúa Trời thực tế trong công tác mà Đức Chúa Trời đã làm qua Jêsus, và Jêsus khác với một người bình thường ở những lời Ngài phán và những hành động Ngài làm, cũng như cách Ngài chăn dắt các hội thánh và công tác mà Ngài thực hiện. Và vì thế, Phi-e-rơ đã học được từ Jêsus nhiều bài học mà người cần phải học, và vào lúc Jêsus sắp bị đóng đinh trên thập tự giá, người đã đạt được một lượng kiến thức nhất định về Jêsus—kiến thức đã trở thành nền tảng cho lòng trung thành trọn đời của người với Jêsus và cho sự chịu đóng đinh ngược của người vì Chúa. Mặc dù ban đầu người đã sở hữu một số quan niệm và đã không có kiến thức rõ ràng về Jêsus, những điều như vậy chắc chắn là một phần của con người bại hoại. Khi Jêsus sắp rời khỏi, Ngài đã bảo Phi-e-rơ rằng sự đóng đinh trên thập tự giá của Ngài là công tác mà Ngài đã đến để thực hiện: Điều cần thiết là Ngài phải bị thời đại từ bỏ, và thời đại xưa cũ và bất khiết này phải đóng đinh Ngài trên thập tự giá; Ngài đã đến để hoàn thành công tác cứu chuộc, và khi đã hoàn thành xong công tác này, chức vụ của Ngài sẽ chấm dứt. Nghe điều này, Phi-e-rơ trĩu nặng đau buồn, và càng trở nên gắn bó hơn với Jêsus. Khi Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá, Phi-e-rơ đã lặng lẽ khóc một cách cay đắng. Trước đó, người đã hỏi Jêsus: “Lạy Chúa! Ngài phán rằng Ngài sẽ bị đóng đinh. Sau khi Ngài đi rồi, khi nào chúng tôi mới gặp lại Ngài?” Không có yếu tố của sự pha trộn nào trong những lời người nói sao? Không có những khái niệm nào trộn lẫn vào chúng sao? Trong lòng, người biết rằng Jêsus đã đến để hoàn thành một phần công tác của Đức Chúa Trời, và rằng sau khi Jêsus rời khỏi, Thần sẽ ở cùng người; mặc dù Ngài sẽ bị đóng đinh trên thập tự giá và thăng thiên, tuy nhiên Thần của Đức Chúa Trời sẽ ở cùng người. Vào thời điểm đó, Phi-e-rơ đã có một số kiến thức về Jêsus: Người nhận biết rằng Jêsus đã được Thần của Đức Chúa Trời sai đến, rằng Thần của Đức Chúa Trời ở trong Ngài, và rằng Jêsus chính là Đức Chúa Trời, rằng Ngài là Đấng Christ. Tuy nhiên, chính vì tình yêu mà người dành cho Jêsus, và vì sự yếu đuối của con người mình, Phi-e-rơ đã nói những lời như vậy. Nếu như, trong mỗi bước công tác của Đức Chúa Trời, người ta có thể quan sát và trải nghiệm một cách cẩn thận, thì người ta sẽ có thể dần dần khám phá ra sự đáng yêu của Đức Chúa Trời. Và Phao-lô đã có khải tượng gì? Khi Jêsus hiện ra cùng người, Phao-lô đã nói rằng: “Lạy Chúa, Chúa là ai?” Jêsus phán: “Ta là Jêsus mà ngươi bắt bớ.” Đây là khải tượng của Phao-lô. Phi-e-rơ đã lấy sự phục sinh của Jêsus, sự hiện ra của Ngài trong 40 ngày, và những lời dạy dỗ trong suốt cuộc đời của Jêsus, làm khải tượng của mình cho đến cuối hành trình của người.
Con người trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời, nhận biết chính mình, trừ khử tâm tính bại hoại của mình, và tìm kiếm sự tăng trưởng trong đời sống, tất cả đều là để nhận biết Đức Chúa Trời. Nếu ngươi chỉ cố gắng để nhận biết bản thân và đối phó với tâm tính bại hoại của chính mình, nhưng không có kiến thức về việc Đức Chúa Trời làm công tác gì trên con người, về sự cứu rỗi của Ngài vĩ đại ra sao, hoặc về cách ngươi trải nghiệm công tác của Chúa và làm chứng cho những việc làm của Ngài, thì kinh nghiệm này của ngươi là khờ dại. Nếu ngươi nghĩ rằng cuộc đời người ta đã đạt được sự trưởng thành chỉ vì người ta có thể đưa lẽ thật vào thực hành và chịu đựng, thì điều này có nghĩa là ngươi vẫn chưa nắm bắt được ý nghĩa thực sự của sự sống hoặc mục đích của Đức Chúa Trời khi làm việc qua con người. Một ngày, khi ngươi ở trong các nhà thờ tôn giáo, giữa các thành viên của Hội thánh Sám hối hoặc của Hội thánh Sự sống, ngươi sẽ bắt gặp nhiều người sùng đạo, là những người với lời cầu nguyện chứa “các khải tượng”, và những người mà khi theo đuổi sự sống, họ cảm thấy xúc động và được hướng dẫn bởi lời. Hơn thế nữa, họ có thể chịu đựng và từ bỏ chính mình trong nhiều vấn đề, và không bị dẫn dắt bởi xác thịt. Vào lúc đó, ngươi sẽ không thể chỉ ra sự khác biệt: Ngươi sẽ tin rằng mọi thứ họ làm là đúng, là biểu hiện tự nhiên của sự sống, và thật đáng tiếc là danh mà họ tin là sai lầm. Chẳng phải những quan điểm như vậy là dại dột sao? Tại sao lại nói rằng nhiều người không có sự sống? Bởi vì họ không biết Chúa, và do đó nói rằng họ không có Chúa trong lòng, và không có sự sống. Nếu niềm tin vào Chúa của ngươi đã đạt đến một mức độ nhất định, nơi ngươi có khả năng nhận biết thấu đáo những việc làm của Chúa, thực tế của Chúa, và mọi giai đoạn trong công tác của Chúa, thì ngươi sở hữu lẽ thật. Nếu ngươi không biết công tác và tâm tính của Đức Chúa Trời, thì vẫn có điều gì đó sai trật trong kinh nghiệm của ngươi. Cách Jêsus đã thực hiện giai đoạn công tác đó của Ngài, cách giai đoạn này đang được thực hiện, cách Đức Chúa Trời đã làm công tác của Ngài trong Thời đại Ân điển và công tác nào đã được thực hiện, công tác nào đang được thực hiện trong giai đoạn này—nếu ngươi không có kiến thức thấu đáo về những điều này, thì ngươi sẽ không bao giờ cảm thấy yên tâm và ngươi sẽ luôn bất an. Nếu như, sau một thời gian trải nghiệm, ngươi có thể nhận biết được công tác do Chúa thực hiện và từng bước trong công tác của Ngài, và nếu ngươi đã đạt được kiến thức thấu đáo về những mục đích của Đức Chúa Trời khi phán những lời của Ngài, và tại sao quá nhiều lời đã Ngài phán chưa được ứng nghiệm, thì ngươi có thể mạnh dạn và không do dự theo đuổi con đường phía trước, thoát khỏi sự lo lắng và tinh luyện. Các ngươi nên thấy Đức Chúa Trời đã đạt được rất nhiều điều trong công tác của Ngài bằng cách nào. Ngài dùng những lời Ngài phán, tinh luyện con người và biến đổi các quan niệm của họ bằng nhiều loại lời phán khác nhau. Mọi đau khổ mà các ngươi đã phải chịu đựng, mọi sự tinh luyện mà các ngươi đã trải qua, sự xử lý mà các ngươi đã chấp nhận bên trong, sự khai sáng mà các ngươi đã trải nghiệm—tất cả những điều này đều đã đạt được bằng những lời Đức Chúa Trời phán ra. Con người theo Chúa vì điều gì? Vì những lời của Đức Chúa Trời! Những lời của Chúa vô cùng mầu nhiệm, và hơn nữa, chúng có thể làm cảm động lòng người, tiết lộ những điều được chôn sâu trong đó, khiến họ biết những điều đã diễn ra trong quá khứ, và cho phép họ thâm nhập vào tương lai. Và vì vậy, con người chịu khổ vì lời của Đức Chúa Trời, và cũng được làm cho hoàn thiện nhờ lời của Đức Chúa Trời: Chỉ tại thời điểm này, con người mới đi theo Chúa được. Những gì con người nên làm trong giai đoạn này là chấp nhận lời của Chúa, và bất kể họ được làm cho hoàn thiện hay phải chịu sự tinh luyện, những lời của Đức Chúa Trời là điều then chốt. Đây là công tác của Đức Chúa Trời, và đây cũng là khải tượng mà con người cần phải nhận biết ngày nay.
Đức Chúa Trời hoàn thiện con người như thế nào? Tâm tính của Chúa là gì? Và những gì được chứa đựng bên trong tâm tính của Ngài? Để làm rõ tất cả những điều này: người ta gọi đó là loan truyền danh Đức Chúa Trời, người ta gọi đó là làm chứng cho Chúa, và người ta gọi đó là tôn cao Chúa. Con người, dựa trên nền tảng của việc nhận biết Chúa, cuối cùng sẽ trở nên được biến đổi trong tâm tính sống của mình. Con người càng trải qua việc được xử lý và tinh luyện thì họ càng được tiếp thêm sinh lực; càng có nhiều bước trong công tác của Đức Chúa Trời thì con người càng được làm cho hoàn thiện. Ngày nay, theo kinh nghiệm của con người, mỗi một bước trong công tác của Đức Chúa Trời đều chống lại những quan niệm của con người, và tất cả đều vượt quá trí tuệ của con người và nằm ngoài mong đợi của họ. Đức Chúa Trời cung cấp mọi thứ con người cần, và trong mọi khía cạnh, điều này mâu thuẫn với các quan niệm của họ. Chúa phán ra những lời của Ngài trong lúc ngươi yếu đuối; chỉ bằng cách này Ngài mới có thể cung cấp cho cuộc sống của ngươi được. Bằng cách chống trả lại các quan niệm của ngươi, Ngài bắt ngươi chấp nhận sự xử lý của Chúa; chỉ bằng cách này ngươi mới có thể giải thoát bản thân khỏi sự bại hoại của mình. Ngày nay, Đức Chúa Trời nhập thể làm việc bên trong trạng thái của thần tính ở một khía cạnh, nhưng ở một khía cạnh khác thì Ngài làm việc trong trạng thái của nhân tính bình thường. Khi ngươi không thể từ chối bất kỳ công tác nào của Chúa, khi ngươi có thể quy phục cho dù Chúa phán gì hoặc làm gì trong trạng thái của nhân tính bình thường, khi ngươi có thể quy phục và hiểu được bất kể loại trạng thái bình thường nào mà Ngài biểu lộ, và khi ngươi đã đạt được kinh nghiệm thực tế: chỉ khi đó ngươi mới có thể chắc chắn rằng Ngài là Đức Chúa Trời, chỉ khi đó ngươi mới ngừng tạo ra các quan niệm, và chỉ khi đó ngươi mới có thể đi theo Ngài đến cuối cùng. Có sự khôn ngoan trong công tác của Đức Chúa Trời, và Ngài biết làm thế nào con người có thể đứng vững để làm chứng cho Ngài. Ngài biết yếu điểm quan trọng của con người nằm ở đâu, và những lời Ngài phán ra có thể đánh vào yếu điểm quan trọng của ngươi, nhưng Ngài cũng dùng những lời khôn ngoan và oai nghi của Ngài để khiến ngươi đứng vững trong lời chứng cho Ngài. Đó là những việc làm kỳ diệu của Đức Chúa Trời. Công tác Chúa thực hiện là không thể tưởng tượng được đối với trí tuệ của con người. Những loại bại hoại nào mà con người thuộc về xác thịt sở hữu, và những gì cấu thành bản chất của con người, tất cả những điều này đều được tiết lộ thông qua sự phán xét của Đức Chúa Trời, khiến con người không có chỗ nào để che giấu sự hổ thẹn của mình.
Đức Chúa Trời thực hiện công tác phán xét và trừng phạt hầu cho con người có thể đạt được kiến thức về Ngài, và vì lời chứng của Ngài. Nếu thiếu sự phán xét của Ngài về tâm tính bại hoại của con người, thì con người không thể nào biết được tâm tính công chính của Ngài, là điều không được phép xúc phạm, họ cũng sẽ không thể nào biến kiến thức cũ của họ về Chúa thành một kiến thức mới. Vì lời chứng của Ngài, và vì sự quản lý của Ngài, nên Ngài công khai toàn bộ về Ngài, do đó cho phép con người, thông qua sự xuất hiện công khai của Ngài, đạt được kiến thức về Đức Chúa Trời, được biến đổi trong tâm tính mình, và làm chứng vang dội cho Chúa. Sự biến đổi của tâm tính con người đạt được thông qua nhiều loại công tác khác nhau của Đức Chúa Trời; nếu thiếu những thay đổi như vậy trong tâm tính mình, thì con người sẽ không thể làm chứng cho Chúa và hợp lòng Chúa được. Sự biến đổi của tâm tính con người biểu thị rằng con người đã tự giải thoát bản thân khỏi sự trói buộc của Sa-tan và khỏi tầm ảnh hưởng của sự tối tăm, và đã thực sự trở thành một kiểu mẫu và hình mẫu cho công tác của Đức Chúa Trời, một chứng nhân của Chúa, và là người hợp lòng Chúa. Ngày nay, Đức Chúa Trời nhập thể đã đến để thực hiện công tác của Ngài trên đất, và Ngài đòi hỏi con người phải đạt được kiến thức về Ngài, vâng lời Ngài, làm chứng cho Ngài—nhận biết công tác thực tế và bình thường của Ngài, vâng theo mọi lời và công tác của Ngài dù chúng không phù hợp với các quan niệm của con người, và làm chứng về mọi công tác mà Ngài thực hiện để cứu rỗi con người cũng như mọi việc mà Ngài hoàn thành để chinh phục con người. Những người làm chứng cho Đức Chúa Trời phải có kiến thức về Chúa; chỉ có loại lời chứng này mới là chính xác và chân thật, và chỉ có loại lời chứng này mới có thể khiến Sa-tan hổ thẹn. Đức Chúa Trời dùng những người đã biết Ngài thông qua việc chịu sự phán xét và trừng phạt, xử lý và tỉa sửa của Ngài, để làm chứng cho Ngài. Ngài dùng những kẻ đã bị bại hoại bởi Sa-tan để làm chứng cho Ngài, và vì thế Ngài cũng dùng những người có tâm tính đã thay đổi, và do đó là những người đã có được các phước lành của Ngài, để làm chứng cho Ngài. Ngài không cần con người ca ngợi Ngài bằng môi miệng, Ngài cũng không cần sự ngợi khen và lời chứng của những kẻ cùng loại với Sa-tan, là những kẻ chưa được Ngài cứu rỗi. Chỉ những ai nhận biết Chúa mới có đủ điều kiện để làm chứng cho Ngài, và chỉ những ai đã được biến đổi trong tâm tính mình mới đủ điều kiện để làm chứng cho Ngài. Đức Chúa Trời sẽ không cho phép con người cố tình mang đến sự hổ thẹn cho danh của Ngài.

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2019

Đâu là nguồn gốc của Tia Chớp Phương Đông?

Chúng ta đang trong những ngày sau rốt, những lời tiên tri về sự tái lâm của Chúa về căn bản đã được thành toàn, và hàng ngàn hàng vạn tín hữu ngoan đạo đang thiết tha mong mỏi Đức Chúa Jêsus tái lâm. Tuy nhiên, cùng lúc đó, Tia Chớp Phương Đông đã công khai làm chứng rằng Đức Chúa Jêsus đã tái lâm rồi - nghĩa là Đức Chúa Trời Toàn Năng, hiện thân của những ngày sau rốt - và rằng Ngài đã thành toàn công cuộc phán xét của Ngài bắt đầu với nhà của Đức Chúa Trời. Sự xuất hiện của Tia Chớp Phương Đông đã làm rung chuyển toàn bộ giới tôn giáo cũng như những ai chân thành tin vào Đức Chúa Trời và khát khao lẽ thật. Qua việc tìm kiếm và tìm hiểu những lời và công cuộc của Đức Chúa Trời Toàn Năng, nhiều người xác nhận rằng Đức Chúa Trời Toàn Năng là Đức Chúa Jêsus tái lâm, và từng người họ tiến đến trước Đức Chúa Trời Toàn Năng. Chuyện này đã khiến các mục sư và bậc trưởng lão trong giới tôn giáo cũng như chính quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc hoảng loạn, họ cấu kết với nhau để đàn áp và ngăn cấm Tia Chớp Phương Đông, dựng lên nhiều tin đồn, lên án gay gắt và phỉ báng Tia Chớp Phương Đông là dị giáo. Họ làm hết sức có thể để ngăn cản và quấy rối những tín hữu chân thành, những người muốn tìm kiếm và tìm hiểu sự xuất hiện và công cuộc của Đức Chúa Trời Toàn Năng trong những ngày sau rốt. Bi kịch lịch sử khi giới tôn giáo Do Thái cấu kết với chính quyền La Mã để đàn áp tàn bạo Đức Chúa Jêsus, giờ lại xảy ra lần nữa. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc liệu Tia Chớp Phương Đông có phải là sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus hay không, và liệu nó có phải là công cuộc của Đức Chúa Trời hay không; một số người hùa theo các mục sư và các bậc trưởng lão trong giới tôn giáo để chối bỏ và lên án, nhưng cũng có những người tin rằng Tia Chớp Phương Đông có liên hệ với lời tiên tri của Đức Chúa Jêsus đã phán trong Kinh Thánh: “Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì sự Con người đến sẽ cũng thể ấy” (Ma-thi-ơ 24:27), và nó có liên hệ với sự quang lâm của Con người trong những ngày sau rốt. Vậy đâu thật sự là nguồn gốc của Tia Chớp Phương Đông? Nó có phải là công cuộc của Đức Chúa Trời hay không, và nó mang theo những mầu nhiệm gì?

Mọi thứ đều đạt được bởi lời Đức Chúa Trời

Đức Chúa Trời phán những lời Ngài và thực hiện công việc của Ngài theo các thời đại khác nhau, và trong các thời đại khác nhau thì Ngài phán những lời khác nhau. Đức Chúa Trời không ràng buộc bởi các qui tắc, cũng không lặp lại công việc nào, hay không phải hoài niệm về những điều trong quá khứ; Ngài là Đức Chúa Trời - một Đấng luôn mới mẻ và không bao giờ cũ kỹ, và mỗi ngày Ngài đều phán ra những lời mới mẻ. Ngươi nên tuân thủ những điều phải tuân thủ hôm nay; đây là trách nhiệm và bổn phận của con người. Điều cốt yếu là việc thực hành phải xoay quanh trọng tâm là sự sáng và lời Đức Chúa Trời của ngày nay. Đức Chúa Trời không bị ràng buộc bởi các qui tắc, và có thể phán từ các góc độ khác nhau để làm rõ sự khôn ngoan và sự toàn năng của Ngài. Bất luận là Ngài đang nói dưới góc độ của Thần, hay của con người, hay của một người thứ ba - thì Đức Chúa Trời vẫn luôn là Đức Chúa Trời, và ngươi không thể nói rằng Ngài không phải Đức Chúa Trời chỉ vì Ngài đang nói dưới góc độ con người. Đã có những quan niệm trỗi dậy trong một số người như là hệ quả của việc Đức Chúa Trời phán ra từ những góc độ khác nhau. Những người như vậy chẳng có chút kiến thức gì về Đức Chúa Trời, và chẳng có chút kiến thức gì về công việc của Ngài. Nếu Đức Chúa Trời luôn phán ra từ một góc độ, chẳng phải con người sẽ đặt ra các qui tắc về Đức Chúa Trời hay sao? Liệu Đức Chúa Trời có cho phép con người hành xử theo cách đó không? Bất kể Đức Chúa Trời phán ra từ góc độ nào, Đức Chúa Trời đều có mục đích của Ngài cho mỗi góc độ. Nếu Đức Chúa Trời cứ luôn phán ra từ góc độ của Thần, liệu ngươi có thể phù hợp với Ngài không? Thế nên thỉnh thoảng Ngài phán ở ngôi thứ ba để ban lời Ngài đến ngươi và dẫn dắt ngươi vào thực tiễn. Mọi điều Đức Chúa Trời làm đều đúng đắn. Tóm lại, mọi thứ đều được hoàn tất bởi Đức Chúa Trời, và ngươi không nên nghi ngờ gì về điều này. Miễn Ngài là Đức Chúa Trời, thì cho dù Ngài phán dưới góc độ nào đi nữa, Ngài vẫn là Đức Chúa Trời. Đây là một lẽ thật bất biến. Dù Ngài có làm việc thế nào chăng nữa, Ngài vẫn là Đức Chúa Trời, và bản chất của Ngài sẽ không thay đổi. Phi-e-rơ rất yêu thương Đức Chúa Trời và là một người rất hợp lòng Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Trời vẫn không xem ông như Chúa hay Đấng Christ, bởi bản chất của một hữu thể đã là như vậy, và không thể thay đổi. Trong công việc của Ngài, Đức Chúa Trời không bị ràng buộc bởi các qui tắc, nhưng lại vận dụng những phương cách khác nhau để cho công việc của Ngài được hiệu quả và gia tăng sự hiểu biết của con người về Ngài. Mọi phương cách làm việc của Ngài đều giúp con người biết đến Ngài, và nhằm mục đích hoàn thiện con người. Cho dù Ngài vận dụng phương cách nào đi chăng nữa, mỗi phương cách đều nhằm xây dựng và hoàn thiện con người. Mặc dù một trong số các phương cách làm việc của Ngài có thể đã tồn tại trong thời gian rất lâu, điều này cũng chỉ nhằm tôi luyện đức tin của con người vào Ngài. Thế nên các ngươi không nên nghi ngờ. Tất cả những điều này đều là các bước trong công việc của Đức Chúa Trời, và các ngươi phải tuân theo.

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2019

Đức Chúa Trời chỉ huy số phận của cả nhân loại

Là những thành viên của nhân loại và là những Cơ Đốc nhân mộ đạo, tất cả chúng ta có trách nhiệm và nghĩa vụ phải dâng tâm trí và thể xác của mình để hoàn thành sự ủy nhiệm của Đức Chúa Trời, vì toàn bộ con người của chúng ta đều đến từ Đức Chúa Trời, và nó tồn tại nhờ quyền tể trị của Đức Chúa Trời. Nếu tâm trí và thể xác của chúng ta không vì mạng lịnh của Đức Chúa Trời và không vì động cơ công chính của loài người, thì linh hồn của chúng ta sẽ không xứng đáng với những người đã tuận đạo vì sự ủy nhiệm của Đức Chúa Trời, và càng không xứng đáng với Đức Chúa Trời, là Đấng đã cung cấp mọi thứ cho chúng ta.

Con người Đã Định nghĩa Đức Chúa Trời Theo Quan niệm Của Mình Sao Có thể Nhận lãnh Sự Mặc khải Của Đức Chúa Trời được?

Công việc của Đức Chúa Trời cứ tiếp tục tấn tớn, và mặc dù mục đích công việc Ngài vẫn không thay đổi, những phương cách Ngài dùng để làm việc thì liên tục thay đổi, và những người theo Đức Chúa Trời cũng thế. Đức Chúa Trời càng thực hiện nhiều công việc, con người càng hiểu thấu đáo hơn về Đức Chúa Trời, và tâm tính con người cũng thay đổi theo công việc của Ngài. Tuy nhiên, cũng bởi công việc của Đức Chúa Trời liên tục thay đổi mà những người không hiểu được công việc của Đức Thánh Linh và những kẻ ngang bướng chẳng hiểu gì về lẽ thật trở nên chống đối Đức Chúa Trời. Chưa bao giờ công việc của Đức Chúa Trời đúng theo những quan niệm của con người, bởi công việc của Ngài luôn luôn mới và không bao giờ cũ. Chưa bao giờ Ngài lặp lại một công việc cũ nào, mà thay vào đó tiến tới với những công việc chưa bao giờ làm trước đây. Bởi Đức Chúa Trời không lặp lại công việc, và con người thì luôn phán xét công việc của Đức Chúa Trời ngày nay dựa trên công việc của Ngài trong quá khứ, nên mọi thứ trở nên quá khó khăn cho Đức Chúa Trời để triển khai mỗi giai đoạn công việc trong thời đại mới. Con người đưa ra quá nhiều sự cản trở! Suy nghĩ của con người quá bảo thủ! Chẳng ai biết được công việc của Đức Chúa Trời, vậy mà hết thảy họ vẫn định nghĩa những việc đó. Xa rời Đức Chúa Trời, con người mất đi sự sống, lẽ thật, và những ân phước của Đức Chúa Trời, vậy mà chẳng người nào chấp nhận sự sống hay lẽ thật, càng không biết nhận lãnh những ân phước lớn lao mà Đức Chúa Trời ban lên nhân loại. Hết thảy con người đều muốn có được Đức Chúa Trời nhưng vẫn không thể mở lòng với những thay đổi trong công việc của Đức Chúa Trời. Những người không chấp nhận công việc mới của Đức Chúa Trời tin rằng công việc của Đức Chúa Trời là không đổi, và rằng công việc của Đức Chúa Trời đã vĩnh viễn dừng lại. Trong niềm tin của họ, tất cả những gì cần làm để đạt được sự cứu rỗi vĩnh hằng từ Đức Chúa Trời là tuân giữ luật pháp, và miễn là họ hối cải và xưng tội, thì Đức Chúa Trời sẽ được toại nguyện mãi mãi. Họ thuộc về tuýp quan niệm rằng Đức Chúa Trời chỉ có thể là Đức Chúa Trời trong luật pháp và là Đức Chúa Trời bị đóng đinh trên thập giá vì con người; quan niệm của họ cũng cho rằng Đức Chúa Trời không nên và không thể đi quá những gì viết trong Kinh thánh. Chính những quan niệm như thế đã cột chặt họ vào luật pháp cũ và trói buộc họ trong những luật lệ cứng nhắc. Thậm chí số đông hơn còn tin rằng bất cứ công việc mới nào của Đức Chúa Trời thì cũng phải được các nhà tiên tri chứng thực, và rằng ở mỗi giai đoạn của các công việc này, tất cả những người theo Ngài với tấm lòng chân thật đều phải được mặc khải, nếu không phải vậy thì không công việc nào có thể là của Đức Chúa Trời được. Việc biết đến Đức Chúa Trời đã là một việc không dễ dàng cho con người rồi. Thêm vào cái tâm ngang bướng và bản chất nổi loạn của họ đầy tự tôn và tự phụ, tất cả chỉ làm khó khăn hơn để con người có thể chấp nhận công việc mới của Đức Chúa Trời. Con người chẳng chịu tìm hiểu kỹ càng về công việc mới của Đức Chúa Trời, cũng chẳng chịu chấp nhận nó trong sự nhún nhường; mà thay vào đó, con người mang một thái độ khinh miệt, chờ đợi sự mặc khải và hướng dẫn của Đức Chúa Trời. Đây chẳng phải là thái độ của một kẻ nổi loạn và chống lại Đức Chúa Trời hay sao? Những kẻ như vậy làm sao được chấp thuận bởi Đức Chúa Trời?

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2019

Về đích đến

Mỗi khi đích đến được đề cập, các ngươi cũng phải vô cùng nghiêm túc với nó; tất cả các ngươi đặc biệt nhạy bén về vấn đề này. Vài người quá háo hức muốn khấu đầu trước Đức Chúa Trời để kết thúc với một đích đến tốt đẹp. Ta có thể đồng cảm với sự háo hức của các ngươi, một sự háo hức không cần phải diễn đạt bằng lời. Chắc chắn các ngươi không muốn xác thịt mình rơi vào thảm họa, và hơn nữa, các ngươi chẳng muốn rơi vào hình phạt đời đời trong tương lai. Các ngươi chỉ hy vọng sống tự do và thoải mái hơn. Thế nên các ngươi đặc biệt lo lắng mỗi khi đích đến được nhắc đến, vô cùng lo sợ rằng nếu không chú tâm đúng mức, các ngươi có thể xúc phạm Đức Chúa Trời và phải chịu hình phạt mình đáng nhận. Các ngươi đã không ngần ngại thỏa hiệp vì đích đến của các ngươi, và nhiều người trong các ngươi từng một thời ranh ma và xấc xược đột nhiên lại trở nên đặc biệt hòa nhã và chân thành; sự chân thành của các ngươi còn đáng ớn lạnh hơn. Dù vậy, các ngươi đều có tấm lòng “chân thật”, và từ đầu cho đến cuối, các ngươi đã mở lòng với Ta mà không giấu diếm bất kỳ bí mật nào trong lòng, dù là sự trách móc, dối trá, hay sùng kính. Nói chung, các ngươi đều thẳng thắn “thú nhận” với Ta những điều cốt yếu trong cõi lòng thâm sâu nhất của các ngươi. Dĩ nhiên, Ta chẳng bao giờ lẩn tránh những sự này, vì chúng đã trở nên bình thường đối với Ta. Các ngươi phải đi vào biển lửa vì đích đến cuối cùng của mình hơn là chỉ mất vài sợi tóc để được Đức Chúa Trời chấp thuận. Không phải Ta quá giáo điều với các ngươi, mà chính lòng sùng kính của các ngươi rất không tương xứng để đối mặt với mọi việc Ta làm. Có lẽ các ngươi không hiểu ý của Ta, thế nên Ta cho các ngươi một lời giải thích đơn giản: Cái các ngươi cần không phải là lẽ thật và sự sống, không phải là những nguyên tắc để chấn chỉnh bản thân, và nhất là nó chẳng phải là công việc khổ nhọc của Ta đâu. Cái các ngươi cần là tất cả những gì các ngươi sở hữu nơi xác thịt - là tiền tài, địa vị, gia đình, hôn nhân, v.v... Các ngươi hoàn toàn gạt bỏ lời nói và việc làm của Ta, thế nên Ta có thể tóm gọn đức tin của các ngươi trong một từ: nửa vời. Các ngươi sẽ làm bất kỳ điều gì để đạt được những điều mà các ngươi hết lòng tận tâm, nhưng Ta đã khám phá ra rằng các ngươi chẳng coi thường mọi sự vì những điều liên quan đến niềm tin của các ngươi vào Đức Chúa Trời. Thay vào đó, các ngươi chỉ trung thành tương đối, và nghiêm túc tương đối. Vì thế mà Ta nói rằng những kẻ thiếu một tấm lòng tuyệt đối chân thành là những kẻ thất bại trong việc tin vào Đức Chúa Trời. Hãy suy nghĩ cho cẩn thận- trong số các ngươi có nhiều kẻ thất bại không nào?

Ngươi đã sống dậy chưa?



Khi ngươi đã có được việc sống bày tỏ ra nhân tính thông thường, và đã được làm cho hoàn thiện, mặc dù ngươi sẽ không thể nói tiên tri, cũng không nói bất kỳ sự mầu nhiệm nào, ngươi sẽ sống bày tỏ ra và biểu lộ hình ảnh của một con người. Đức Chúa Trời đã tạo nên con người mà sau đó con người đã bị Sa-tan làm bại hoại, và sự bại hoại này đã khiến con người trở thành “những xác chết” – và do vậy, sau khi ngươi đã thay đổi, ngươi sẽ khác biệt với những xác chết này. Chính lời Chúa ban sự sống cho linh hồn của con người và làm cho họ được tái sinh, và khi linh hồn của con người được tái sinh, họ sẽ sống dậy. Nói đến “kẻ chết” nghĩa là ám chỉ những cái xác không hồn, là những người mà linh hồn của họ đã chết. Khi linh hồn của con người được ban sự sống, họ sẽ sống dậy. Các thánh đồ được nói đến trước kia ám chỉ những người đã sống dậy, những người đã chịu sự ảnh hưởng của Sa-tan nhưng đã đánh bại Sa-tan. Những người được chọn ở Trung Quốc đã phải chịu sự bắt bớ và sự lừa bịp tàn nhẫn và vô nhân tính của con rồng lớn sắc đỏ, khiến họ bị tổn hại về tinh thần và không có chút dũng khí nào để sống. Do vậy, việc thức tỉnh linh hồn của họ phải bắt đầu với bản chất của họ: Từng chút một, trong bản chất của họ, linh hồn của họ phải được đánh thức. Khi mà, một ngày nào đó, họ sống dậy, sẽ không còn những chướng ngại nữa, và tất cả sẽ tiến triển êm đẹp. Vào lúc này, điều này vẫn chưa thể đạt đến được. Việc sống bày tỏ ra của hầu hết mọi người chứa đựng nhiều không khí chết chóc, họ bị vùi trong mùi của sự chết, và họ thiếu thốn quá nhiều. Lời nói của một số người mang sự chết, hành động của họ mang sự chết, và hầu như mọi thứ mà họ sống bày tỏ ra đều là sự chết. Nếu, ngày nay, con người công khai làm chứng cho Đức Chúa Trời thì công việc này sẽ thất bại, bởi vì họ chưa hoàn toàn sống dậy, và có quá nhiều kẻ chết trong số các ngươi. Ngày nay, một số người hỏi tại sao Đức Chúa Trời không tỏ ra một số dấu kỳ phép lạ để Ngài có thể nhanh chóng loan báo công việc của mình giữa các dân ngoại. Kẻ chết không thể làm chứng cho Đức Chúa Trời; chỉ người sống mới có thể, nhưng hầu hết mọi người ngày nay đều là kẻ chết, quá nhiều người trong số họ sống trong lao tù của sự chết, họ sống dưới sự ảnh hưởng của Sa-tan, và không thể có được sự chiến thắng – và như vậy thì làm sao họ có thể làm chứng cho Đức Chúa Trời? Làm sao họ có thể loan báo công việc của Phúc Âm?